Lý thuyết sóng Elliot và dãy số Fibonacci

LÍ THUYẾT SÓNG ELLIOT + FIBONACCI

Lí thuyết sóng Elliot

I. Định nghĩa và giới thiệu sơ lược về sóng Elliot

Nền tảng lịch sử

Năm 1938, một chuyên đề có tựa là Nguyên lý Sóng được coi là tài liệu tham khảo đầu tiên về những gì mà giờ đây có tên gọi là Nguyên lý sóng Elliot. Chuyên đề này được công bố bởi Charles J.Collin và được dựa trên công trình nghiên cứu gốc của người sáng lập nguyên lý sóng Ralph Nelson Elliot.

Lý thuyết sóng Elliot chịu ảnh hưởng rất nhiều từ lý thuyết Dow và Nguyên lý sóng cũng mang nhiều điểm tương đồng với nó. Những ý tưởng của Elliot có thể đã chìm vào quên lãng nếu vào năm 1953 A. hamilton Bolton không quyết định công bố Phụ lục Sóng Elliot trong cuốn Bank Credit Analyst, và Phụ lục này được công bố liên tục thường niên trong suốt 14 năm liền cho đến khi ông qua đời năm 1967. Sau đó A.J.Frost tiếp quản Phụ lục sóng Elliot và vào năm 1978 ông hợp tác với Robert Prechter để tiếp tục cho ra đời cuốn Nguyên lý sóng Elliot. Hầu hết các đồ thị trong chương này đều được trích trong quyển sách này.

Những tiền đề cơ bản của nguyên lý sóng Elliot

Nguyên lý sóng Elliot  có ba khía cạnh quan trọng được sắp xếp theo thứ tự giảm dần là mô hình, tỷ suất và thời gian.

  • Mô hình tức là những mô hình hay những cấu trúc hình sóng là yếu tố quan trọng nhất của lý thuyết này.
  • Phân tích tỷ suất rất hữu ích trong việc xác định điểm thoái lùi và mục tiêu giá bằng cách đo lunogwf mối quan hệ giữa những sóng khác nhau.
  • Mối quan hệ thời gian cũng tồn tại và được sử dụng để xác nhận mô hình hay hệ số sóng, những không được những người ủng hộ lý thuyết Elliot đánh giá cao độ tin cậy trong việc dự đoán thị trường.

Lý thuyết sóng Elliot lần đầu tiên được áp dụng vào các chỉ số trung bình quan trọng của thị trường chứng khoán, đặc biệt là những chỉ số trung bình DJ Industrial. Lý thuyết này cho rằng thị trường chứng khoán đi theo một nhịp liên tục 5 sóng tăng sau đó là 3 sóng giảm. Nếu đếm sóng bạn sẽ nhận thấy cần 8 sóng để tạo nên một chu kỳ hoàn chỉnh - năm lên và ba xuống. Phần lên của chu kỳ được được đánh số từ 1 đến 5. Sóng 1,3,5 được gọi là sóng tiến, trong khi 2 và 4 di chuyển ngược lại xu hướng tăng. Sóng 2 và 4 được gọi là sóng hiệu chỉnh bởi vì chúng hiệu chỉnh sóng 1 và 3. Sau khi đánh số sóng 5 tăng, sự hiệu chỉnh song 3 bắt đầu, 3 sóng hiệu chỉnh được đánh ký tự a,b và c.

Mỗi sóng được chia thành những sóng nhỏ hơn, và sau đó chúng lại được chia nhỏ thành những sóng còn nhỏ hơn nữa. Mỗi sóng là một phần của sóng lớn hơn.

Khả năng xác định 3 sóng và 5 sóng đóng vai trò rất quan trọng trong việc áp dụng phương pháp tiếp cận này. Thông tin này cho nhà phân tích kỹ thuật biết điều gì sẽ diễn ra tiếp theo. Một biến dộng 5 sóng kết thúc có nghĩa rằng một phần của sóng lớn hơn đã hình thành và còn có những sóng khác ( trừ khi nó là sóng thứ 5 của một sóng lớn gồm 5 sóng ). 

Một trong nguyên tắc quan trọng nhất cần phải ghi nhớ là trong 5 sóng đó không bao giờ xuất hiện một sự hiệu chỉnh. Trong một thị trường giá lên, nếu đợt suy giảm 5 sóng xuất hiện thì nó chỉ là sóng đầu tiên của 3 sóng giảm ( a-b-c ) và còn những sóng giảm khác nữa. Trong một thị tường giá xuống, sự tăng giá ba sóng được tiếp nối bằng sự hồi phục của xu hướng giảm. Sự phục hồi năm sóng cảnh báo một vận động tăng giá quan trọng và có khả năng chỉ là sóng đầu tiên của một xu hướng tăng mới.

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-21 lúc 10.56.44

Các con số 1,2,3,5,8,13,21,34,55,89,144 - không chỉ là con số ngẫu nhiên. Chúng là một phần của dãy số Fibonacci giúp hình thành cơ sở toán học của lý thuyết sóng Elliot.

Tại sao lại có sóng 5-3 ?

Elliot chưa từng giải thích tại sao thị trường lại hình thành mô hình sóng Elliot 5-3. Ông chỉ đơn giản chỉ ra rằng đây là sự thật và nó xuất hiện trên thị trường. Vậy sóng 5-3 có thật sự là sự bắt buộc ? Hãy suy nghĩ về điều này và bạn sẽ nhận ra rằng đây là điều kiện tối thiểu để cấu thành một con sóng. Sự phân chia nhỏ nhất để tạo một biến động là ít nhất 3 sóng. Nếu chỉ 1 sóng thì nó không thể hiện được sự biến động.

Giải thích tâm lý về sóng Elliot

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-31 lúc 09.25.12

 

Chức năng của sóng

Mọi sóng đều có một trong hai chức năng sau: tăng tiến hoặc hiệu chỉnh. Đặc biệt, một con sóng có thể đóng vài trò dẫn dắt một con sóng lớn hơn sau đó hoặc nó cũng có thể là sự kết thúc của con sóng trước đó. Cách xác định chức năng của sóng là dựa vào sự tương quan của nó với trend dài hạn. Nếu nó hướng của trend thì được gọi là sóng tăng tiến và đi ngược thì được xem là sóng hiệu chỉnh. 

elliot 3

Mô tả ngắn gọn về mỗi sóng

Sóng 1

Sóng 1 hiếm khi rõ ràng khi hình thành. Khi sóng đầu tiên của đợt thị trường tăng bắt đầu, tin cơ bản gần như là tiêu cực ở toàn cầu. Xu hướng trước đó được xem là vẫn còn hiệu lực. Tuy nhiên giá bắt đầu tăng nhẹ do các nhà đầu tư nhận định giá đang ở mức thấp và là thời điểm thích hợp để mua vào. Khối lượng giao dịch dường như tăng một chút khi giá tăng, nhưng không đủ để cảnh báo các nhà phân tích kỹ thuật.

Sóng 2

Tại thời điểm này, 1 phần các nhà đầu tư mua vào tin rằng cổ phiếu đã tăng vượt mức giá trị của nó và quyết định chốt lời, điều này khiến các cổ phiếu giảm điểm. Thường là thông tin vĩ mô, vi mỗ vẫn xấu. Cảm xúc giá giảm nhanh chóng hình thành, và “đám đông” vẫn tin là thị trường vẫn đi xuống. Tuy nhiên, một số dấu hiệu tích cực xuất hiện: khối lượng giao dịch thấp khi giá đi xuống, giá không giảm thấp hơn 61,8% độ dài của sóng 1.

Sóng 3

Sóng 3 thông thường là sóng lớn nhất và mạnh nhất trong một xu hướng (sóng 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất). Thông tin tích cực và nhà phân tích cơ bản dự báo tích cực về lợi nhuận của doanh nghiệp cũng như triển vọng thị trường. Các nhà đầu tư tham gia mạnh vào thị trường, giá nhanh chóng tăng vượt qua đỉnh của sóng 1 cùng với sự gia tăng của khối lượng giao dịch.

Sóng 4

Sóng 4 thường rõ ràng là sóng điều chỉnh giảm khi các nhà đầu tư đã nhận được 1 tỷ suất sinh lợi như kỳ vọng đồng thời bắt đầu xuất hiện cảm giác lo ngại khi thị trường đã tăng điểm mạnh ở sóng 3 dẫn đến hành vi chốt lời hàng loạt (mặc dù có thể không có thông tin xấu trong giai đoạn này). Sóng 4 thường là sóng phức tạp và khó dự đoán nhất.

Sóng 5

Sóng 5 là sóng cuối cùng trong xu hướng chính. Tiếp tục là những thông tin tích cực về triển vọng vĩ mô, vi mô. Các nhà đầu tư tham gia vào thị trường đẩy giá tăng trở lại vượt qua đỉnh của sóng 3. Tuy nhiên sóng 5 thường không tăng mạnh bằng sóng 3 và khối lượng giao dịch thường thấp hơn sóng 3. Vào cuối sóng 5, bắt đầu xuất hiện dấu hiệu phân kỳ của các chỉ báo dao động như Stochastic, MACD,…

Sóng điều chỉnh ABC

Khi sóng đẩy hoàn thành, thị trường sẽ điều chỉnh sau đó và đổi chiều bởi 3 sóng ngược xu hướng chính. Chữ được sử dụng thay cho số để phân biệt giữa sóng đẩy và sóng điều chỉnh. Dưới đây là ví dụ mô hình 3 sóng điều chỉnh.

Chúng tôi lấy ví dụ về thị trường tăng điểm không có nghĩa lý thuyết sóng Elliott không thể áp dụng cho thị trường giảm điểm. Mô hình sóng 5-3 cũng có thể như sau:

Theo Elliott, có 21 mô hình sóng điều chỉnh ABC từ đơn giản đến phức tạp.

“Trời đất ơi, 21 ư, làm sao tôi có thể nhớ hết tất cả!”

Thực tế nó khá dễ dàng. Điều tuyệt vời về sóng Elliott là bạn không phải ghi nhớ tất cả 21 dạng sóng điều chỉnh ABC bỏi vì nó được hình thành bởi 3 mẫu rất đơn giản và dễ hiểu.

Zic zag

Zig zag là mô hình hiệu chỉnh ba sóng, ngược với xu hướng chính, bị tách thành một chuối 5-3-5. Thông thường, zig zag sẽ xảy ra 2 lần hoặc nhiều nhất là 3 lần. ( Zig zag đôi và zig zag tripple )

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-21 lúc 14.49.49

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-21 lúc 14.50.03

Mặt phẳng

Cách phân biệt được sự hiệu chỉnh mặt phẳng với mô hình zig zag là mặt phẳng luôn thé sau mô hình 3-3-5. Nhìn chung thì hình mặt phẳng cho thấy tín hiệu củng cố hơn là hiệu chỉnh và biểu thị sự vũng chắc của thị trường. Chẳng hạn trong những thị trường giá tăng thì sóng B hồi phục lên trên đỉnh của sóng A để khẳng định sự vững chắc của thị trường. Sóng cuối cùng là sóng C kết thúc ngay tại hoặc chỉ ngay dưới đáy sóng A trong khi hình zig zag thì sẽ rơi xâu xuống dưới điểm đó. 

Sẽ xuất hiện một dạng khác nữa khi sóng B đạt mức đỉnh của A, nhưng sóng C lại rơi xuống bằng với đáy của A. Hiển nhiên là mô hình này mang ý nghĩa một thị trường tăng giá vững chắc hơn.

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.43.34 Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.43.45

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.45.24 Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.45.36

 

Mô hình tam giác

Tam giác chỉ xuất hiện tại sóng thứ tư và ngay trước vận động cuối cùng theo chiều hướng của xu hướng chính. Vì nguyên nhân này, trong một xu hướng tăng, chúng ta có thể nói rằng tam giác là biểu hiện của cả thị trường đầu cơ giá lên lẫn thị trường đầu cơ giá xuống. Chúng được hiểu là tăng giá khi biểu thị sự hồi phục của xu hướng tăng. Ngược lại, ta hiểu rằng giảm giá nếu chúng thể hiện khả năng đạt đỉnh trong một xu hướng tăng. 

Cách diễn giải của Elliot về tam giác tương tự như cách giải thích truyền thống trước đó, nhưng có độ chính xác cao hơn. Như đã nói trong chương 6, tam giác thường là mô hình tiếp diễn. Tam giác của Elliot là một mô hình cũng cố không rõ xu hướng, có 5 sóng trong đó mỗi sóng gồm 3 sóng nhỏ. Elliot chia thành 4 loại tam giác khác nhau: tăng, giảm, đối xứng và mở rộng.

Lý thuyết sóng Elliot cũng cho rằng sóng thứ năm và sóng cuối cùng trong tam giác đôi khi lại phá vỡ đường xu hướng chính của nó, tạo ra một tín hiệu nguỵ tạo trước khi thực sự bắt đầu một cú phá vỡ theo hướng ban đầu.

Ảnh chụp Màn hình 2014-07-27 lúc 13.56.07

 

II. ĐẶC ĐIỂM CỦA SÓNG ELLIOTT

1. SÓNG TRONG SÓNG

Như chúng ta đã đề cập trước đó, các sóng Elliot là các Fractals. Môi sóng được tạo bởi các sóng phụ. Tôi sẽ cho bạn xem một bức tranh khác về sóng Elliott.

Thú vị phải ko ? Bạn có thấy là sóng 1,3, và 5 được tạo bởi mô hình 5 sóng đẩy trong khi sóng 2 và 4 được tạo bởi mô hình 3 sóng điều chỉnh? Hãy nhớ là mỗi sóng đều bao gồm các mô hình sóng nhỏ hơn. Các mô hình này lập lại chính nó. Mãi mãi…

Để dễ dàng nhận diện những sóng này, lý thuyết sóng Elliott đã phân ra một loạt các loại sóng theo thứ tự từ lớn nhất đến nhỏ nhất:

  1. Grand Supercycle: kéo dài từ vài thập kỷ đến vài thế kỷ
  2. Supercycle: kéo dài từ vài năm đến vài thập kỷ
  3. Cycle: kéo dài từ vài quý đến vài năm
  4. Primary: kéo dài từ vài tháng đến vài năm
  5. Intermediate: kéo dài từ vài tháng đến vài quý
  6. Minor: kéo dài từ vài tuần đến vài quý
  7. Minute: kéo dài từ vài tuần tuần đến vài tháng
  8. Minuette: kéo dài từ vài ngày đến vài tháng
  9. Subminuette: kéo dài từ vài ngày đến vài tuần
  10. Micro: kéo dài từ vài giờ đến vài ngày
  11. Submicro: kéo dài từ vài phút đến vài giờ

 

2. SÓNG ĐẨY MỞ RỘNG

Một điều mà bạn cần phải biết về lý thuyết sóng Elliott là một trong 3 sóng đẩy sẽ luôn luôn được mở rộng. Đơn giản là sẽ luôn có một sóng dài hơn hai sóng còn lại.

Theo Elliott, thường sóng thứ năm sẽ được mở rộng. Tuy nhiên, theo thời gian nó đã thay đổi và rất nhiều người bắt đầu cho là sống thứ 3 là một sóng mở rộng.

3. "SÓNG CỤT" (TRUNCATION)

Thường thường, sóng 5 phát triển trong điều kiện quá bán khi các nhà đầu tư đã nhận diện sóng Elliott một cách khá rõ ràng và họ biết rằng đây có thể là con sóng cuối cùng trong xu hướng tăng. Điều này đôi khi có thể làm cho chiều cao của sóng 5 thấp hơn sóng 3. Được gọi là "sóng cụt" (truncation)

4. "TAM GIÁC CHÉO" (DIAGONAL TRIANGLE)

Tam giác chéo là trường hợp đặc biệt mà sóng 4 có thể đi vào biên độ của sóng 1. Nói một cách khác là sóng 4 và sóng 1 chéo nhau - đây cũng là nguyên nhân xuất hiện tên gọi của nó là "tam giác chéo"

Quy tắc:

  • Mô hình Diagonal Triangle bao gồm 5 sóng.
  • Sóng 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất so với các sóng khác.
  • Sóng 4 và Sóng 1 chéo nhau (vì thế nó có tên gọi là Tam giác chéo), tức là đáy Sóng 4 đi vào biên độ của Sóng 1.
  • Sóng 4 không vượt qua điểm khởi nguồn của Sóng 3.
  • Sóng 5 phải vượt qua điểm cuối của Sóng 3.

Tam giác chéo được phân chia thành 2 loại: Leading Diagonal Triangle và Ending Diagonal Triangle

a) Ending Diagonal Triangle

Mô hình sóng Ending Diagonal Triangle thuộc dạng mô hình sóng chủ xảy ra ở các sóng cuối một cấp độ sóng như sóng 5 hay sóng C. Không nên nhầm lẫn nó với các mô hình tam giác điều chỉnh.

Mô hình sóng Ending Diagonal Triangle là hiện tượng tương đối hiếm đối với các cấp độ sóng lớn mà thường xuất hiện ở các cấp độ sóng thấp hơn trên các đồ thị giá trong ngày (intraday). Thường thì theo sau mô hình Diagonal Triangle là sự thay đổi mạnh về xu hướng thị trường.

Vị trí xuất hiện: Mô hình Ending Diagonal Triangle xuất hiện ở các sóng 5, C.

Cấu trúc sóng bên trong: Mô hình Ending Diagonal Triangle bao gồm 5 sóng và có cấu trúc sóng bên trong theo dạng 3-3-3-3-3.

b) Leading Diagonal Triangle

Mô hình sóng Leading Diagonal Triangle thuộc dạng mô hình sóng chủ thường xảy ra ở đầu một cấp độ sóng như sóng 1 hay sóng A hay nói cách khác nó nằm trong sóng 1 hoặc sóng A. Không nên nhầm lẫn nó với các mô hình tam giác điều chỉnh. Điểm khác của mô hình này với mô hình Ending Diagonal Triangle là các sóng 1, 3 và 5 có cấu trúc sóng bên trong gồm 5 sóng chứ không phải 3 sóng như mô hình Ending Diagonal Triangle.

Cũng như mô hình sóng Ending Diagonal Triangle thì mô hình sóng Leading Diagonal Triangle là hiện tượng tương đối hiếm đối với các cấp độ sóng lớn mà thường xuất hiện ở các cấp độ sóng thấp hơn trên các đồ thị giá trong ngày (intraday). Thường thì theo sau mô hình Diagonal Triangle là sự thay đổi mạnh về xu hướng thị trường.

Vị trí xuất hiện: Mô hình Leading Diagonal Triangle xuất hiện ở các sóng 1 và A.

Cấu trúc sóng bên trong: Mô hình Leading Diagonal Triangle bao gồm 5 sóng có cấu trúc sóng bên trong theo dạng 5-3-5-3-5.

Dãy số FIBONACCI

I. Định nghĩa và giới thiệu sơ lược về dãy số fibonacci

Fibonacci ( 1170-1240), tên đầy đủ của ông là Leonardo Pisano, được biết đến như một nhà toán học vĩ đại nhất của châu Âu thời trung cổ. Ông được sinh ra và lớn lên ở vùng bắc phi. Từ nhỏ đã theo cha đi khắp các vùng xung quanh bờ biển địa trung hải. Trong những chuyến đi của mình, ông có cơ hội gặp nhiều thương nhân và học kiến thức số học của họ. Ông là một trong những người đầu tiên truyền bá hệ thống số Ả Rập vào châu Âu -hệ thống số của chúng ta hiện đang sử dụng ngày nay dựa trên số mười chữ số với dấu thập phân và một biểu tượng đặc biệt (“số không”): 1 2 3 4 5 6 7 8 9 và 0.

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Hiện nay, vẫn còn một bức tượng tưởng niệm ông nằm ở Leaning Tower, bên cạnh Nhà Thờ Lớn ở Pisa. Ngoài ra, tên ông còn được dùng để đặt cho hai bến cảng: Lungarno Fibonacci ở Pisa và Via Fibonacci ở Florence.

Dãy số Fibonacci

Dãy  số Fibonacci là dãy vô hạn các số tự nhiên bắt đầu bằng hai phần tử 0 và 1, các phần tử sau đó được thiết lập theo quy tắc mỗi phần tử luôn bằng tổng hai phần tử trước nó. Công thức truy hồi của dãy Fibonacci là:

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Dãy số Fibonacci là dãy số kinh điển làm nên tên tuổi của nhà toán học tìm ra nó. Việc khảo sát dãy số này dựa trên hai bài toán mẫu mực được Fibonacci viết trong cuốn Liber Abacci năm 1202: Bài toán con thỏ và bài toán con ong.

Điều đáng nói ở đây là dãy số Fibonacci xảy ra rất thường xuyên trong tự nhiên. Cũng như tỉ lệ vàng, nó như một quy luật tuyệt vời của tạo hóa.

Dãy số Fibonacci - Quy luật tự nhiên

Trong vô vàn các dãy số, không phải ngẫu nhiên mà dãy số này lại nổi tiếng đến vậy. Nói đến đây có lẽ nhiều người còn ngờ vực. Có lẽ, sau khi cùng lướt qua những điều dưới đây, mọi thắc mắc sẽ được giải đáp.

Sự sắp xếp các cánh hoa trên một bông hoa

Bạn đã bao giờ thực sự dành thời gian ngồi đếm số cánh của các loài hoa? Có lẽ là chưa. Nhưng nếu có thời gian, bạn sẽ nhận thấy một điều khá thú vị rằng: “ số lượng cánh hoa trên một bông hoa luôn là một trong các số thuộc dãy số Fibonacci”.

Hoa một cánh:

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Hoa hai cánh:

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Hoa ba cánh:

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Hoa 5 cánh:

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Tám cánh : Hoa phi yến.

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

13 cánh hoa: Hoa cúc vàng, Cúc vạn thọ.

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Một số loài hoa có số lượng cánh hoa luôn là một số cố định, chẳng hạn Hoa mao Lương. Tuy nhiên, cũng có những loài hoa có số lượng cánh hoa thay đổi. Tuy nhiên, theo những nhà khoa học, những con số này luôn giao động quanh một mốc trung bình là một số thuốc dãy Fibonacci.

Số lượng các đường xoắn ốc (hoặc đường chéo)

Không chỉ ở số cánh hoa, dãy số Fibonacci còn hiện hữu một cách đáng ngạc nhiên hơn bạn nghĩ. Khi bạn quan sát nhị của bông hoa Hướng Dương, nhìn từ tâm ra, theo hai hướng cùng chiều và ngược chiều kim đồng hồ, bạn sẽ thấy các đường xoắn ốc. Và có một điều lạ là, số đường xoắn ốc đó luôn là một số thuộc dãy Fibonacci theo từng cặp: 21 và 34, hoặc 34, 55, hoặc 55, 89, hoặc 89 và 144.

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Tương tự, khi bạn quan sát một hạt thông (nón thông): số đường xoắn ốc theo các hướng khác nhau luôn là các cặp số thuộc dãy số bí ẩn: 8 và 13; 5 và 8…..

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên

 

 

 

 

Và cũng như vậy đối với quả dứa: số đường chéo tạo bởi các mắt dứa theo các hướng chéo nhau cũng lần lượt là 8 và 13 hoặc 13 và 21….tùy kích thước.

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Sự mọc chồi của cây

Nhiều loài cây biểu hiện dãy số Fibonacci trong số lượng các “điểm phát triển” (nút) mà nó có. Khi một cây mọc cành non, thì cành đó phải lớn lên một thời gian, trước khi đủ khỏe để bản thân nó có thể sinh cành non mới. Nếu mỗi tháng cây mọc cành mới tại các nút ấy, thì chúng ta có hình vẽ minh họa như trên. Số lượng các nút mỗi thời điểm luôn là một con số Fibonacci.

Một ví dụ: Cây Romanesque Brocolli / Súp lơ trắng (hoặc Romanesco) trông và có vị giống như lại giữa brocolli và súp lơ. Mỗi Hoa con đều giống hệt nhau nhưng nhỏ hơn. Điều này làm cho các xoắn ốc dễ nhìn thấy.

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Vậy taị sao?

Phải chăng những điều này đều là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Không! Tất cả đều nằm trong dãy số Fibonacci: 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144…Rõ ràng là mọi thứ tuân theo một quy luật chung. Dù chúng ta có thể giải thích một cách rõ ràng hay chưa.

Phải chăng, cũng tương tự như tỉ lệ vàng, tỉ lệ thần thánh của tạo hóa, dãy Fibonacci cũng là một quy luật chung của vạn vật. Và điều đó liệu có ủng hộ giả thuyết rằng:” thế giới này sinh ra nhờ bàn tay của chúa, nhào nặn theo những quy luật riêng của người?”.

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Trong một thời gian dài, người ta vẫn không thể hiểu tại sao những con số này lại xuất hiện như một quy luật tự nhiên như vậy? Chỉ đến thời gian gần đây, người ta mới hiểu, thực vật, trong quá trình tiến hóa của mình luôn có xu hướng hoàn thiện hình thái để thích nghi tốt nhất với môi trường sống, để đạt được mức tăng trưởng cao nhất. Và có mối liên hệ gì đó giữa các con số này với sự tăng trưởng của chúng.

Lời giải thích rõ ràng!

Bài viết sẽ đưa ra hai ví dụ để giải thích một cách cụ thể về những con số (dù đôi chỗ vẫn hơi khó hiểu). Trước đó, bạn nên tham khảo lại bài viết ‘’tỉ lệ vàng’’.

Bông hoa hướng dương là một ví dụ điển hình để phân tích

Cứ tưởng tượng, nhị hoa Hướng Dương được hình thành từ những hạt nhỏ. Ban đầu chúng ở vị trí trung tâm, sau đó di chuyển dần ra bên ngoài, để sau cùng, khi tất cả các hạt đã được tạo ra, chúng phải sắp xếp sao cho diện tích không gian là nhỏ nhất, hay có thể sắp xếp được nhiều hạt nhất (theo quy luật tiến hóa, chỉ có như vậy, tỉ lệ thụ phấn mới đạt kết quả cao nhất).

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Bây giờ giả sử chúng di chuyển dần từ trung tâm ra ngoại vị theo hình nan hoa. Như vậy, khoảng trống giữa các hàng là khá nhiều, nhất là ở ngoại vi bông hoa. Và rõ ràng, cách này không phải là tối ưu nhất.

Để tối ưu hơn về không gian, các đường thẳng trên bắt buộc phải uống cong đi theo một hướng. Vấn đề là cong một góc bao nhiêu độ thì diện tích không gian sẽ chiếm ít nhất. Đây chính là sự kì diệu của tạo hóa. Người ta chứng minh được rằng, tỉ lệ vàng ( φ = 1.618) đóng vai trò quan trọng trong cách tính góc xoay này. Về nguyên tắc, mỗi đường từ tâm ra ngoại vi có thể xoay 360 độ. Bạn có thể dùng một mẹo nhỏ: 360 (1-1/ φ) = 137.5 độ. Đúng bằng góc xoay của các hạt hướng dương ở nhị bông hoa. Vậy đấy, thật sự tạo hóa có những quy luật riêng của nó!

Số Fibonacci và sự mọc của lá xanh từ thân cây

Nhiều loài cây cũng có cách mọc lá tuân theo các số Fibonacci. Nếu chúng ta quan sát kỹ sẽ thấy lá cây mọc trên cao thường xếp sao cho không che khuất lá mọc dưới. Điều đó có nghĩa là mỗi lá đều được hưởng ánh sáng và nước mưa, cũng như nước mưa sẽ được hứng và chảy xuống rễ đầy đủ nhất dọc theo lá, cành và thân cây.

Nếu từ một lá ngọn làm khởi đầu, xoay quanh thân cây từ trên xuống dưới, lá sang lá, đếm số vòng xoay đồng thời đếm số chiếc lá, cho đến khi gặp chiếc lá mọc đúng phía dưới lá khởi đầu, thì các số Fibonacci xuất hiện.

Nếu chúng ta đếm xoay theo hướng ngược lại, thì sẽ được một con số vòng xoay khác (ứng với cùng chừng ấy lá).

Kỳ lạ là: Con số vòng xoay theo 2 hướng, cùng với số lá cây mà chúng ta gặp khi xoay, tất cả sẽ tạo thành 3 con số Fibonacci liên tiếp nhau!

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Ví dụ: Trong ảnh cây dưới, lấy lá (x) làm khởi điểm, ta có 3 vòng quay thuận chiều kim đồng hồ trước khi gặp lá (8) nằm đúng phía dưới lá (x), hoặc là 5 vòng nếu quay theo ngược chiều kim đồng hồ. Vượt qua tổng cộng 8 lá. 3,5,8 là 3 số liên tiếp trong dãy Fibonacci.

Các chiếc lá được đánh số khi quay vòng quanh thân từ trên xuống dưới, bắt đầu từ (x) rồi đến 1,2,3,… Kinh ngạc thay, mỗi chiếc lá liền kề cách nhau khoảng 222.5°, tức là chính xác 0,618 vòng tròn. 0,618 chính là 1/Ф ( khác với hoa hướng dương là 1- 1/Ф).

Chiếc lá (3) và (5) là những chiếc lá phía dưới gần lá khởi điểm (x) nhất, rồi xuống tiếp nữa là lá (8) rồi (13)

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Định luật này đúng cho cả các lá tiếp theo (21), (34)… Trên các cột và các hàng đều là những con số liên tiếp thuộc dãy Fibonacci!

Có nhà nghiên cứu ước đoán rằng: 90% các loài cây có sự xếp lá tuân theo dãy số Fibonacci, theo cách này hay cách khác.

Liệu có tồn tại cỏ 4 lá?

Nếu bạn là một tín đồ của vận may, hẳn sẽ không lạ gì với thuật ngữ ’’ cỏ bốn lá’’. Theo như niềm tin tao nhã của những người sưu tập cỏ may mắn, mỗi cánh lá tượng trưng cho một điều gì đó: lá thứ nhất tượng trương cho niềm tin; lá thứ hai là lá Hy vọng; lá thứ ba hẳn là lá của Tình yêu; và lá thứ tư, là chiếc lá may mắn. Vậy sao mà không phải cỏ ba lá hay năm lá, có lẽ vì thật sự rất rất hiếm cỏ bốn lá. Và cái gì hiếm thì mới quý!

 

Bí ẩn dẫy số Fibonacci và sự trùng hợp kinh ngạc trong tự nhiên
 

 

Theo ta biết, dãy fibonacci không có số 4, nó chỉ gồm: 0, 1, 1, 2, 3, 5…Và như những quy luật trên, cỏ bốn lá không tồn tại. Tuy nhiên, tạo hóa vốn không phải là điều gì đó có thể đóng khung trung một hai quy luật. Có những loài cỏ có số lượng cánh cố định, thì cũng có những loài cỏ (hạn hữu) có số lượng cánh thay đổi (dù nếu trung bình, chũng vẫn thuộc dãy fibonacci). Và biết đâu đấy, một đột biến xảy ra và cỏ bốn lá xuất hiện.

Có thật sự tồn tại cỏ 4 lá? Có chứ. Nhưng….Theo ước tinh, khoảng 10.000 chiếc cỏ ba lá thì có một chiếc có 4 lá.

II. Áp dụng vào chứng khoán

Ralph Nelson Elliott khẳng định rằng ông nghiên cứu và phát mình ra lý thuyết sóng truớc khi biết Fibonacci nhưng những con số trùng hợp đến kỳ lại: 5 sóng chủ, 3 sóng điều chỉnh, 89  sóng chủ, 55 sóng điều chỉnh cũng như tỷ lệ giá của các con sóng luôn ở chung quanh các tỷ lệ vàng 0.618, 1.618, 0.328. Do đó có một giá thuyết khác cho rằng Ông Elliott đã ứng dụng những con số Fibonacci vào lý thuyết của mình. 

Dãy số Fibonacci

Số lớn/chia cho số nhỏ hơn 1 bậc

Số nhỏ/chia cho số lớn hơn 1 bậc

Số nhỏ/chia cho số lớn hơn 2 bậc

0

 

 

 

1

 

 

 

1

 

 

 

2

 

 

 

3

 

 

 

5

 

 

 

8

 

 

 

13

1.6250

    0.6154

0.3810

21

1.6154

    0.6190

0.3824

34

1.6190

    0.6176

0.3818

55

1.6176

    0.6182

0.3820

89

1.6182

    0.6180

0.3819

144

1.6180

    0.6181

0.3820

233

1.6181

    0.6180

0.3820

377

1.6180

    0.6180

0.3820

610

1.6180

    0.6180

0.3820

987

1.6180

    0.6180

 

Một dãy sóng 5-3 điển hình trong thị truờng tăng trường “bò húc”

Dưới đây là phân tích một con sóng 5-3 điển hình của thị trường trong giai đọan tăng trưởng - “bò húc”. Cũng con sóng 5-3 này trong Thị trường suy thóai – “gấu ngủ” sẽ được vẽ hòan tòan ngược lại.

Sóng chủ số 1. Đợt sóng đầu tiên này là có điểm xuất phát từ thị truờng con gấu (suy thóai), do đó sóng 1 ít khi được nhận biết ngay từ đầu. Lúc này  thông tin cơ bản về các công ty niêm uớc vẫn đang là thông tin tiêu cực. Chiều hướng của thị trường trước khi sóng 1 xảy ra chủ yếu vẫn là thị truờng suy thoái. Những nhà phân tích cơ bản vẫn đang tiếp tục điều chỉnh thu nhập kỳ vọng thấp xuống so với dự kiến. Khối lương giao dịch có tăng chút ít theo chiều hướng giá tăng. Tuy vậy việc tăng này là không đáng kể. Do đó nhiều nhà phân tích kỹ thuật không nhận ra sự có mặt của đợt sóng số 1 này.

Sóng chủ  số 2. Sóng chủ 2 sẽ điều chỉnh sóng 1, nhưng điểm thấp nhất của sóng 2 không bao giờ vượt qua điểm xuất phát đầu tiên của sóng 1. Tin tức dành cho thị trường vẫn chưa khả quan. Thị trường đi xuống ở cuối sóng 2 để thực hiện việc “kiểm tra” độ thấp của thị trường. Những người theo phái con gấu vẫn đang tin rằng thị trường con gấu vẫn đang ngự trị. Khối lượng giao dịch sẽ ít hơn đợt sóng 1. Giá sẽ được điều chỉnh giảm và thuờng nằm trong khoảng 0.382 đến 0.618 của mức cao nhất của sóng 1.

Sóng chủ số 3. Thông thường đây là sóng lớn nhất và mạnh mẽ nhất của xu hướng lên giá. Ngay đầu sóng 3, thị trường vẫn còn nhận những thông tin tiêu cực vì vậy có nhiều nhà kinh doanh không kịp chuẩn bị để mua vào. Khi sóng 3 đang ở lưng chừng, thị trường bắt đầu nhận những thông tin cơ bản tích cực và những nhà phân tích cơ bản bắt đầu điều chỉnh thu nhập kỳ vọng. Mặc dù có những đợt điều chỉnh nho nhỏ trong lòng của sóng 3, giá của sóng 3 tăng lên với tốc độ khá nhanh. Điểm cao nhất của sóng 3 thường cao hơn điểm cao nhất của sóng 1 với tỷ lệ 1,618:1

Sóng chủ số 4. Đây thật sự là một con sóng điều chỉnh. Giá có khuynh hướng đi xuống và đôi khi có thể răng cưa kéo dài. Sóng 4 thường sẽ điều chỉnh sóng 3 với mức 0.382 – 0.618 của sóng 3. Khối lượng giao dịch của sóng 4 thấp hơn của sóng 3. Đây là thời điểm để mua vào nếu như nhà kinh doanh nhận biết được tiềm năng tiếp diễn liền sau đó của con sóng 5. Tuy vậy việc nhận biết điểm dừng của sóng 4 là một trong những khó khăn của các nhà phân tích kỹ thuật trường phái sóng Elliot.

Sóng chủ số  5. Đây là đợt sóng cuối cùng của 5 con sóng “chủ”. Thông tin tích cực tràn lan khắp thị trường và ai cũng tin rằng thị trường đang ở trong thế bò húc. Khối lượng giao dịch của sóng 5 khá lớn , tuy vậy thông thường vẫn nhỏ hơn sóng 3. Điều đáng nói là những nhà kinh doanh “không chuyên nghiệp” thường mua vào ở những điểm gần cuối sóng 5. Vào cuối con sóng 5, thị trường nhanh chóng chuyển hướng. 

Sóng điều chỉnh A. Sóng này bắt đầu cho đợt sóng điều chỉnh A,B,C. Trong thời gian diễn ra sóng A, thông tin cơ bản vẫn đang rất lạc quan. Mặc dù giá xuống, nhưng phần đông các nhà kinh doanh vẫn cho rằng thị trường đang trong thế bò húc. Khối lượng giao dịch tăng trưởng khá đều đặn theo con sóng A.

Sóng điều chỉnh B. Giá tăng trở lại và với mức cao hơn so với điểm cuối sóng A. Sóng B được xem là điểm kéo dài của thị trường bò húc. Đối với những người theo trường phái phân tích kỹ thuật cổ điển, điểm B chính là vai phải của đồ thị Đầu và Vai ngược. Khối lượng giao dịch của sóng B thường thấp hơn của sóng A. Vào lúc này, những thông tin cơ bản của các công ty không có những điểm tích cực mới, thế nhưng cũng chưa chuyển hẳn qua tiêu cực.

Sóng điều chỉnh C. Giá có khuynh hương giảm nhanh hơn các đợt sóng trước. Khối luợng giao dịch tăng. Hầu như tất cả mọi nhà kinh doanh, đầu tư đều nhận thấy rõ sự ngự trị của “gấu ngủ”  trên thị trường, chậm nhất là trong đợt sóng nhỏ thứ 3 của sóng C.  Sóng C thường lớn như sóng A. Điểm thấp nhất của sóng C ít nhất bằng điểm thấp nhất của sóng A nhân với 1.618.

III. Áp dụng vào TTCK Việt Nam

Trong phạm vi bài viết, chúng ta sẽ tập trung vào hai công cụ phân tích phân tích chính là Fibonacci Retracement (fibonacci thoái lui) và Fibonacci Projection (fibonacci mở rộng), ngoài ra chúng ta cũng tiếp cận các công cụ khác ứng dụng fibonacci như Fibonacci Fan, Fibonacci Arc và Fibonacci Time Zones.

FIBONACCI RETRACEMENT

 

 

 

 



Ở biểu đồ trên, các bạn có thể thấy xu hướng chung của VNIndex là giảm điểm từ đầu năm 2010 đến cuối năm 2011, tuy nhiên xu hướng giá không xuống thẳng một lúc. Sẽ có những lúc giá dịch chuyển ngược xu hướng chính sau đó lại quay trở lại và tiếp tục xu hướng ban đầu. Đây là tính chất hồi giá và phát triển của một xu hướng. Khi giá bắt đầu đảo chiều xu hướng, một cách rất tự nhiên các nhà đầu tư trên thị trường sẽ muốn biết được giá sẽ dịch chuyển trong xu hướng mới này trong bao lâu. Công cụ Fibonacci Retracement sẽ giúp bạn xác định điều đó!

Trong xu hướng lên, chúng ta có thể mua khi thị trường thoái lui tại những mức hỗ trợ (support) của Fibonacci retracement. Các mức này được vẽ từ điểm thấp nhất tới một điểm cao nhất trong xu hướng tăng lên trước đó. Các mức thoái lui sẽ xuất hiện và cho bạn biết rõ tỉ lệ của từng mức. Chúng ta hãy xem 1 ví dụ cụ thể khi thị trường đang trong xu hướng đi lên.

Sau khi đạt đỉnh 633.21 điểm vào ngày 23/10/2009, VNIndex bắt đầu đảo chiều giảm điều chỉnh. Lúc này ta có thể sử dụng Fibonacci Retracement (FR) để đo mức thoái lui của thị trường, kéo FR từ thời điểm bắt đầu xu hướng tăng (ngày 27/2/2009) đến đỉnh của xu hướng (ngày 23/10/2009) ta có các mức 23.8%; 38.2%; 50% và 61.8% là các mức hỗ trợ tiềm năng của VNIndex. Thực tế cho ta thấy, VNIndex đều cho dấu hiệu tăng giá khi thoái lui về các mức này, và cuối cùng tạo đáy ở mức 50%. Nếu bạn tin rằng thị trường đang trong giai đoạn điều chỉnh giảm và sẽ sớm quay trở lại xu hướng tăng trước đó, một chiến lược giao dịch hợp lý được đề xuất là giải ngân từng phần với những tỷ trọng thích hợp khi VNIndex thoái lui về những ngưỡng hỗ trợ của FR này.

Trường hợp này ta áp dụng Fibonacci Retracement trong xu hướng xuống, ta có thể thấy thị trường bắt đầu giảm từ đỉnh 492.44 điểm ngày 8/5/2012 và đạt đáy ngắn hạn ngày 11/7/2012. Sau đó, giá có xu hướng tăng trở lại. Sử dụng FR ta có mức kháng cự tiềm năng ở mức 23.6%; 38.2%; 50% và 61,8%. Thực tế, VNIndex đã có dấu hiệu giảm khi chạm mức 23.6% và cuối cùng đảo chiều ở mức 38.2%. Mặt khác, nếu VNIndex tiếp tục phá vượt qua mức kháng cự 38.2% này, nó sẽ hướng đến những mức kháng cự cao hơn 50%, 61.8%, 100%,...
 
Qua những ví dụ trên, có thể thấy khi thị trường đang trong xu hướng đi lên, Fibonacci Thoái lui sẽ cho chúng ta biết những mức hỗ trợ (support), cũng như khi thị trường trong xu hướng xuống, Fibonacci Retracement sẽ cho biết những mức kháng cự (resistance). Và như vậy, rõ ràng là chúng ta có thể tìm thấy những vị trí để đặt lệnh. Không có cách nào để biết chắc chắn trước mức Fibonacci Retracement nào sẽ trở thành mức hỗ trợ/kháng cự. Thông thường 0.236 là một mức hỗ trợ/kháng cự yếu, giá thường bật lại ở mức 0.382; 0.5 và 0.618. Dù các biểu đồ trên cho thấy thị trường thường hay lùi về mức 0.382 thì cũng không có nghĩa là giá sẽ luôn đổi hướng mỗi khi chạm mức này. Có lúc giá chạm mức 0.5 rồi đổi chiều, cũng có khi chạm mức 0.618 rồi mới đổi chiều. Và cũng rất đáng tiếc là có những trường hợp giá hoàn toàn bỏ qua những gì mà Fibonacci Retracement tính toán.
 
Fibonacci thất bại
 
Hãy luôn nhớ rằng, thị trường không phải lúc nào cũng chạm mức Fibonacci thoái lui sau đó quay lại xu hướng cũ!
 
Chúng ta đã từng nói rằng, các mức hỗ trợ và kháng cự cũng bị phá vỡ. Điều này cũng xảy ra đối với các mức Fibonacci. Hãy cùng theo dõi ví dụ dưới đây
 
Bạn thấy rằng thị trường đang ở trong xu hướng đi xuống, và bạn cho rằng đợt tăng giá hiện tại của thị trường chỉ là phục hồi kỹ thuật. Bạn quyết định sử dụng FR để tìm ra mức giá mục tiêu hay nói cách khác là đỉnh của đợt phục hồi này.
 
Wow! Thật là tuyệt khi giá chạm mức 38.2% và đang có xu hướng đảo chiều đi xuống, bạn quyết định tham gia ngay vào thị trường ở thời điểm này và mơ màng về việc sẽ mua gì với số tiền kiếm được ^^
 
Nhưng hãy coi diễn biến tiếp theo của thị trường...
 
Diễn biến thực tế lại trái ngược hoàn toàn với quyết định của bạn. Đáy của sóng giảm trước đó đã là đáy của xu hướng xuống và thị trường đã bắt đầu tiến vào một chu kỳ tăng giá mới.
 
FIBONACCI PROJECTION 
 
Nhắc lại một lần nữa là thị trường thường sẽ không tăng một mạch theo xu hướng chính mà sẽ vận động theo kiểu “tiến 2 bước, lùi 1 bước”, việc vận dụng Fibonacci Retracement kết hợp với các công cụ khác đã cho ta biết những “mức lùi” tiềm năng giúp chung ta tham gia vào thị trường ở những mức giá thích hợp. Còn công cụ Fibonacci Projection sẽ cho chúng ta biết “mức tiến” tiềm năng của thị trường! 
 
Để vẽ Fibonacci Projection (mở rộng) chúng ta cần xác định 3 điểm A, B, C, phía dưới là hình mô tả:
Trong một xu hướng tăng, ta kéo FP từ điểm bắt đầu xu hướng tăng (A) lên đỉnh ngắn hạn (B) rồi tiếp tục kéo xuống đáy điều chỉnh (C). FP sẽ cho chúng ta các mức giá mục tiêu tương ứng với mức 0.618, 1, 1.618,… là các ngưỡng kháng cự tiềm năng (vùng mà giá có tiềm năng đạt đến và đảo chiều)
 
Các mục tiêu giá:
Từ điểm C: 
Mục tiêu 1 = 0.618 lần khoảng cách từ điểm A đến điểm B 
Mục tiêu 2 = 1.000 lần khoảng cách từ điểm A đến điểm B 
Mục tiêu 3 = 1.618 lần khoảng cách từ điểm A đến điểm B 
 
Tất nhiên , giá có thể tiếp tục chạy vượt qua cả 3 mức trên. Tuy nhiên, nếu bạn muốn sử dụng Fibonacci mở rộng để tìm ra những mục tiêu tiềm năng thì đây chính là cách để tìm ra chúng. Rất đơn giản, chỉ cần bạn hiểu cách vẽ 3 điểm A, B, C là bạn có thể làm được.
Ví dụ về áp dụng Fibonacci Projection (FP) với biểu đồ VNIndex cuối năm 2008.
 
Bài học ở đây là gì? 
 
Khi mức Fiboancci thực sự mang lại cho bạn cơ hội cao hơn để giao dịch thành công, nhưng cũng như các công cụ kỹ thuật khác, chúng không phải lúc nào cũng chính xác. Mà một trong những nguyên nhân quan trọng tác động đến hiệu quả trong việc sử dụng Fibonacci là xác định đỉnh và đáy sóng. Mọi người có cách nhìn biểu đồ khác nhau, trong một khung thời gian khác nhau, và có những quan điểm phân tích cơ bản của riêng họ, do đó cũng có những ý kiến khác nhau về đỉnh hay đáy sóng. 
 
Điểm mấu chốt là không có một quy luật tuyệt đối nào, đặc biệt khi xu hướng trên biểu đồ không rõ ràng. Đôi khi nó giống như đoán mò vậy. Đó là lý do tại sao bạn cần phải trau dồi kỹ năng và kết hợp công cụ Fibonacci với các công cụ khác để giúp bạn tìm ra được khả năng thành công cao hơn. 
 
Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu về cách thức sử dụng công cụ Fibonacci kết hợp với dạng khác của mức hỗ trợ, kháng cự và nến.
 
Kết hợp Fibonacci với mức hỗ trợ và kháng cự
 
Công cụ Fibonacci nên được kết hợp với các công cụ khác. Trong phần này, chúng ta sẽ lấy những gì bạn đã học được cho đến nay và thử kết hợp chúng để giúp ta có hệ thống giao dịch hiểu quả.
 
Một trong những cách tốt nhất sử dụng Fibonacci là kết hợp với mức hỗ trợ, kháng cự và chú ý xem mức này có trùng với mức của Fibonacci Retracement (thoái lui) hay không.
 
Hãy cùng xem ví dụ dưới đây.
 
 
 
Bạn thấy rằng SSI đang ở trong xu hướng giảm điểm khá rõ ráng, và bạn cho rằng một số phiên tăng điểm gần đây chỉ là điều chỉnh kỹ thuật trước khi SSI tiếp tục quay trở lại xu hướng chính của nó là giảm điểm. Bạn bắt đầu sử dụng FR từ đỉnh ngày 14/12/2010 đến đáy ngày 26/5/2011, bây giờ ta đã có thể lựa chọn cho mình thời điểm tham gia vào thị trường dễ dàng hơn với các mức FR.
 
Nhưng hơn thế nữa, bạn muốn tìm kiếm một điểm vào lệnh tốt tốt trong các mức FR được đưa ra. Nhìn lại đồ thị, bạn thấy rằng mức FR 38.2% trùng với một mức hỗ trợ khá mạnh trong quá khứ, nhưng nay nó đã bị phá vỡ và trả thành một mức kháng cự cho xu hướng tăng điểm của giá. Chính vì vậy, bạn quyết định tập trung vào lệnh ở mức FR 38.2% này. Hãy chờ xem kết quả!
 
Tại sao như vậy? 
 
Đầu tiên, mức hỗ trợ và kháng cự trước đó sẽ là khu vực tốt để mua hoặc bán bởi vì hầu hết các nhà giao dịch thường để mắt đến chúng. 
 
Thứ hai, ta biết rằng rất nhiều nhà giao dịch sử dụng công cụ Fibonacci, do đó nhiều khả năng họ cũng đang chờ cơ hội để tham gia vào thị trường tại các mức Fibonacci này. 
 
Do vậy, đó thực sự là một cơ hội tốt với hàng loạt lệnh mua bán được tiến hành tại một mức hỗ trợ hay kháng cự khi các nhà giao dịch cùng quan tâm đến mức đó. 
 
Tuy rằng không có đảm bảo là giá sẽ bật lên tại các mức này nhưng ít nhất, bạn có thể tự tin hơn với sự mua bán của mình. 
 
Bạn phải luôn nhớ rằng, tất cả giao dịch là có xác suất. Nếu bạn bám theo những giao dịch có xác suất thành công cao, bạn sẽ có cơ hội đi được xa hơn.
 
Kết hợp Fibonacci với Nến
 
Khi kết hợp các công cụ Fibonacci với mô hình nến, chúng ta tìm kiếm các tín hiệu nến suy yếu. Nếu bạn biết được khi áp lược mua hoặc bán bị cạn kiệt, nó có thể cho bạn gợi ý về xu hướng sắp tới của giá.
 
Hãy xem một ví dụ.
 
 
 
ITA đang ở trong giai đoạn điều chỉnh kỹ thuật sau xu hướng tăng khá mạnh mẽ, bạn quyết định dùng FR để tìm kiếm những mức hỗ trợ tiềm năng của giá. 
 
Bạn thấy điều gì? Một mẫu hình đảo chiều bullish harami xuất hiện ở ngay mức FR 61.8%. Tuy không hoàn toàn chắc chăn, nhưng điều này sẽ làm gia tăng sức mạnh của mức hỗ trợ FR 61.8%. Và hãy xem điều gì diễn ra sau đó!
 
Kết hợp các công cụ Fibonacci 
 
Một phương pháp khác để gia tăng hiệu quả khi sử dụng Fibonacci là kết hợp nhiều công cụ Fibonacci.
 
 
Trong ví dụ này, HNXIndex đang tiến vào giai đoạn điều chỉnh sau xu hướng tăng trước đó, chúng ta kéo FR thứ nhất (màu xanh) từ đáy ngày 24/2/2009 đến đỉnh ngày 23/10/2009 và FR thứ hai từ đáy điều chỉnh ngày 27/4/2009 đến đỉnh 23/10/2009.
 
Có thể thấy rằng có 3 sự giao hội khá rõ ràng khi sử dụng đồng thời 2 FR này, 38.2% (xanh) trùng với 50% (đỏ); 50% (xanh) trùng với 61.8% (đỏ) và 61.8% (xanh) trùng với 78.6% (đỏ). Điều này sẽ làm tăng thêm sức mạnh hỗ trợ của 3 mức FR này, và kết quả là:
 
HNXIndex đã tăng điểm trở lại khi thoái lui về mức FR 61.8% (xanh) trùng với 78.6% (đỏ). Hơn thế nữa, việc xuất hiện một cây nến hammer ở mức FR kết hợp này sẽ càng làm tăng thêm khả năng đảo chiều quay trở lại xu hướng tăng của chỉ số.
 
FIBONACCI FAN (FF)
 
Fibonacci Fan được vẽ bằng cách kết nối hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của giai đoạn phân tích. Sau đó một đường thẳng đứng “vô hình” sẽ được vẽ qua điểm giá cao nhất. Tiếp theo đó 3 đường chéo sẽ được vẽ từ điểm giá thấp nhất cắt đường thẳng đứng “vô hình” tại 3 mức 38.2%, 50.0%, 61.8%. Ba đường thẳng này sẽ đóng vai trò hỗ trợ/kháng cự cho diến biến của giá trong tương lai!
 
Trực quan ta có thể thấy 3 đường FF phát huy rất rõ những vai trò hỗ trợ/kháng cự cho giá. Sau khi đạt đỉnh ở điểm A, HNXIndex điều chỉnh giảm và được hỗ trợ khá tốt bởi đường FF thứ 2 (điểm B), trở lại xu hướng tăng điểm, chỉ số lại được sự hỗ trợ bởi đường FF thứ nhất khi liên tục bám phía trên đường này trong nhều ngày. Tiếp theo đó là các vai trò hỗ trợ ở các điểm C, D, F; vai trò kháng cự ở điểm E
 
FIBONACCI ARC (FA)
 
Fibonacci Arc được thiết lập đầu tiên bằng cách vẽ đường thẳng kết nối 2 điểm có mức giá cao nhất và thấp nhất của giai đoạn phân tích. 3 đường cong sau đó được vẽ với tâm nằm trên điểm có mức giá cao nhất và có khoảng cách bằng 38.2%, 50.0%, 61.8% độ dài đường thẳng thiết lập
 
FA dùng để dự đoán mức hỗ trợ và kháng cự khi đồ thị giá tiếp cận với đường cong. Một kỹ thuật phổ biến là theo dõi cả hai đường FA, FF (Fibonacci Fan) và dự đoán mức hỗ trợ/kháng cự tại điểm giao giữa đồ thị giá và đường FA/FF. 
 
Lưu ý rằng đồ thị giá cắt đường FA tại điểm nào còn tùy thuộc vào kích cỡ của đồ thị, nói cách khác đường FA được vẽ lên đồ thị nên nó có mối tương quan với kích cỡ cân đối của đồ thị trên màn hình vi tính hoặc trên giấy. 
 
Đồ thị giá VNIndex mô tả cách mà đường FA tìm ra các điểm hỗ trợ và kháng cự (điểm A, B, C, D)
 
FIBONACCI TIME ZONE
 
Fibonacci Time Zones bao gồm một loạt các đường thẳng đứng. Sắp xếp theo trật tự của dãy Fibonacci 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34,… Cũng như các đường khác, diễn biến thay đổi của giá thường có mức hỗ trợ/kháng cự nằm gần hoặc trên các đường thẳng đứng này.
Note:
Các kết quả nghiên cứu về Fibonacci này không có ý định làm kim chỉ nam cho việc xác định thời gian xâm nhập hoặc thoát ra khỏi thị trường. Tuy nhiên, nó có thể hữu ích trong việc xác định vùng hỗ trợ và kháng cự. Các nhà đầu tư có thể sử dụng kết hợp các phương pháp Fibonacci này để có thể đưa ra các mức dự đoán chính xác hơn. Nhiều người khác kết hợp các nghiên cứu về Fibonacci với các dạng thức phân tích kỹ thuật khác như “lý thuyết sóng Elliot” để dự đoán mức độ đảo ngược xu hướng sau mỗi bước sóng khác nhau. Trong phạm vi bài viết, tôi chỉ xin dừng lại ở mức độ ứng dụng cơ bản của dãy Fibonacci, hy vọng có thể cung cấp cho các bạn vài thông tin hữu ích.
Xem thêm nhiều kiến thức hay khác tại : http://lakimtai.com/chung-khoan/kien-thuc-chung-khoan
 

LA KIM TÀI | TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

 
Rate this post