Tổng quan Cổ phiếu Vinamilk – VNM

TÓM GỌN SƠ LƯỢC ( QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN )

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH: A+

NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CHÍNH

FMCG – Hàng tiêu dùng nhanh: Sữa, nước ngọt, kem …

RỦI RO KINH DOANH

Giá nguyên liệu đầu vào ( giá bột WMP và VMP ), tình hình tiêu thụ của thị trường xuất khẩu ( biến động chính trị, … )

LỢI THẾ CỦA CÔNG TY

Thị phần lớn nhất Việt Nam, thương hiệu mạnh, ban lãnh đạo giỏi, quy mô công ty lớn

ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH CÔNG TY: A+

DÒNG TIỀN

Rất tốt

CƠ CẤU TÀI CHÍNH

Rất tốt

RỦI RO TÀI CHÍNH

Không có

ĐỊNH GIÁ

Trung bình

ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN CÔNG TY: A+

CÁC YẾU TỐ SẼ TÁC ĐÔNG TÍCH CỰC ĐẾN CÔNG TY

  • Giá nguyên liệu sữa đầu vào tiếp tục giảm
  • Nới room nước ngoài
  • Công ty giữ vững năng lực cạnh tranh và tiếp tục tăng trưởng

CÁC YẾU TỐ SẼ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC ĐẾN CÔNG TY

  • Giá sữa nguyên liệu tăng mạnh trở lại trong năm
  • Gia nhập TPP gây áp lực cạnh tranh lớn -> Nếu VNM không cạnh tranh lại thì sẽ bị mất thị phần
  • Thương hiệu bị 1 cú shock lớn

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC CỔ PHIẾU VINAMILK ( VNM )

Hình: Sản phẩm kinh doanh của cổ phiếu Vinamilk – VNM

Hình: Địa bàn hoạt động cổ phiếu Vinamilk – VNM

Nhìn lại năm 2015 – VNM tiếp tục củng cố vị trí là công ty hàng đầu Việt Nam

Lợi nhuận quay trở lại đà tăng nhờ biên LN gộp tăng mạnh

Sau năm đầu tiên có mức lợi nhuận sụt giảm năm 2014 do nhu cầu tiêu dùng trì trệ trong nước, doanh số xuất khẩu giảm mạnh do các các xung đột nội bộ ở Iraq, cạnh tranh gia tăng và "cú sốc" chi phí nguyên liệu đầu vào, công ty sữa Vinamilk đã quay trở lại đà tăng trưởng trong năm 2015, khi người Việt đã gia tăng tiêu thụ sữa, cùng với giá bột sữa (WMP và SMP) giảm mạnh đã giúp hỗ trợ cho biên LN của VNM. Với việc công ty quay trở lại đà tăng và vẫn duy trì được các yếu tố cơ bản tốt, VNM tiếp tục là một trong những cổ phiếu được chúng tôi đánh giá cao. Thậm chí, kỳ vọng này còn được nâng cao khi VNM nâng trần room nước ngoài, điều có khả năng sẽ xảy ra trong bối cảnh VNM vừa ban hành nghị quyết loại bỏ các ngành nghề kinh doanh có điều kiện ra khỏi điều lệ công ty (xem thêm ở trang 5). Chúng tôi cho rằng động thái này là sự chuẩn bị của VNM để nâng trần room nước ngoài. Sự tham gia tự do của NĐT nước ngoài vào cổ phiếu này có thể sẽ dẫn đến việc tăng trưởng hệ số, theo quan điểm của chúng tôi.

Xem thêm: Chứng khoán là gì ? Hướng dẫn giao dịch chứng khoán

Tổng hợp KQKD 2015 của VNM và ghi nhận của VCSC

 

 

Tỷ đồng

 

2015

 

2014

Tăng trưởng

% dự báo của VCSC

Ghi chú

Doanh thu

     

Trong nước

32.161

29.387

9,4%

99,7%

Tăng trưởng sản lượng

 

Xuất khẩu

 

5.269

 

2.957

 

78,2%

 

101,8%

Tăng từ mức thấp năm 2014 và tăng mạnh giá

     

bán trung bình

Nhà máy Driftwood

2.650

2.728

-2,9%

104,5%

 

Tổng cộng

40.080

35.072

14,3%

100,3%

 

 

Tăng giá bán trung bình

Xuất khẩu

2.726

775

251,9%

105,4%    đáng kể thúc đẩy biên

LN gộp

Nhà máy Driftwood

637

477

33,5%

100,5%

Tổng cộng

16.262

11.392

42,8%

102,3%

 

 

Chi phí bán hàng

 

 

6.258

 

 

3.684

 

 

69,8%

Gia tăng cạnh tranh + chi phí hoa hồng tăng

98,4%    mạnh khi xuất khẩu

nhằm tăng giá bán trung bình

Chi phí G&A

1.233

795

55,0%

132,0%    Chi phí nhân công và

CB-CNV tăng gấp đối

LN từ HĐKD

8.772

6.912

26,9%

101,9%

LNTT

9.367

7.613

23,0%

100,0%

LNST

7.773

6.069

27,9%

100,1%

Biên LN gộp %

40,6%

35,2%

  

Chi phí bán hàng %

15,6%

13,4%

  

G&A %

3,1%

2,3%

  

Nguồn: VNM và VCSC 

Thị phần của công ty sữa Vinamilk trong từng phân khúc

 

 

2015

2014

Sữa tươi

53%

51%

Sưa đặc

~80%

~80%

Yogurt

85%

85%

Sự bột

27%

~25%

Nguồn: VNM

Chi phí quản lý (G&A) bất ngờ tăng vọt trong quý 4/2015 đẩy chi phí G&A tính theo % doanh thu đạt 3,1% trong năm 2015, so với mức 2,3% trong 9 tháng đầu năm và 2,3% trong năm 2014. Điều này xuất phát từ việc chi phí nhân viên tăng mạnh từ 77 tỷ đồng (3,5 triệu USD) trong quý 4/2014 lên 376 tỷ đồng (16,9 triệu USD) trong quý 4/2015. Ban lãnh đạo công ty cho biết công ty đã áp dụng chính sách thưởng mới cho 2015. Theo kế hoạch mới này, các CB-CNV (cấp quản lý trở lên) được thưởng bằng tiền mặt và họ có thể sử dụng số tiền này để mua cổ phiếu VNM trên thị trường. Vừa qua, 12 thành viên HĐQT, những người có nghĩa vụ phải công bố thông tin trong số những CB-CNV đủ tiêu  chuẩn,

 Tóm tắt ngành Sữa năm 2015 – Tăng trưởng nhanh của khu vực nông thông là một lợi thế của VNM

Lượng tiêu thụ sữa trong năm 2015 đã gia tăng nhờ sức mua và niềm tin tiêu dùng cải thiện. Tăng trưởng chủ yếu đến từ sản lượng bán ra khi các công ty sữa không tăng giá trong bối cảnh chi phí nguyên liệu đầu vào thuận lợi.

Các khu vực nông thôn tiếp tục tăng nhanh hơn khu vực thành thị. Do mức độ thâm nhập thấp hơn ở các khu vực nông thôn, VNM có thể giành được thị phần khi sở hữu hệ thống phân phối rộng khắp ở các khu vực này.

Năm 2016 – Triển vọng lợi nhuận cổ phiếu VNM tích cực nhờ giá bột sữa vẫn ở mức thấp - Rất tích cực cho giá cổ phiếu vnm

Chúng tôi điều chỉnh tăng dự báo LNST 2016 thêm 10,8% lên 9.715 tỷ đồng (436 triệu USD, tăng 25% so với 2015). Điều này xuất phát từ biên LN gộp ước tính cao hơn, một phần bù đắp bởi chi phí quản lý doanh nghiệp tăng. Vui lòng xem số liệu dự báo chi tiết ở trang 9.

Chúng tôi nâng dự báo biên LN gộp thêm 375 điểm cơ bản lên 44,3% trong năm 2016, khi VNM đã hoàn tất việc chốt giá bột sữa. Đây là thông tin tích cực cho VNM khi giá bột sữa vẫn đang trong xu hướng giảm và hiện đang ở mức thấp nhất trong nhiều năm. Dựa theo diễn biến giá bột sữa WMP và WMP trong giai đoạn tháng 11/2015 – tháng 2/2016 so với tháng 11/2014 và tháng 2/2015 (tháng 11-tháng 2 thường là thời điểm VNM chốt giá bột sữa khi có nguồn cung dồi dào nhất), chúng tôi thận trọng giả định mức sụt giảm 10% của giá bột sữa đầu vào trong năm 2016 so với 2015, so với mức 0% trong báo cáo cập nhật gần đây của chúng tôi.

Xem thêm: Đầu tư chứng khoán - Hướng dẫn toàn tập

 Quá trình nới room cổ phiếu Vinamilk được chờ đợi có thể sắp diễn ra

Ngày 15/2/2016, VNM đã công bố Nghị quyết HĐQT với nội dung rút 7 ngành nghề kinh doanh bao gồm Bốc xếp hàng hóa, Hoạt động dịch vụ chăn nuôi, Hoạt động dịch vụ sau thu hoạch, Hoạt động dịch vụ trồng trọt, Xử lý hạt giống để nhân giống, In ấn và Môi giới BĐS khỏi điều lệ công ty. Quyết định này sẽ được các cổ đông bỏ phiếu bằng văn bản và dự kiến hoàn thành vào cuối tháng 3/2016.

Chúng tôi cho rằng động thái này xuất phát từ ý định rút các ngành nghề kinh doanh có điều kiện ra khỏi điều lệ công ty của VNM, tạo tiền đề của việc nâng trần room nước ngoài. Đây là một thông tin rất tích cực khi chúng tôi đã nhìn thấy điều này được thực hiện hóa bằng hành động của công ty. Điều này cũng hỗ trợ cho quan điểm của chúng tôi rằng VNM xứng đáng được định giá lại để thu hẹp định giá với các công ty cùng ngành tại Châu Á, khi mức trần room nước ngoài và thanh khoản thấp là các yếu tố khiến cho định giá của các cổ phiếu Việt Nam thấp hơn.

định giá của các cổ phiếu Việt Nam thấp hơn. CƠ CẤU TÀI CHÍNH CÔNG TY VNM Cơ cấu tài chính lành mạnh Lượng tiền gửi dồi dào mang về doanh thu tài chính lớn hàng năm9T.2015, tỷ lệ Nợ vay/TTS của VNM vẫn ở mức rất thấp 7,38%, vay nợ ngắn hạn là 1.360 tỷ đồng trong đó công ty mẹ vay nợ 790 tỷ đồng, còn lại phần hợp nhất từ các công ty con; vay nợ dài hạn là 558 tỷ đồng. Giá trị tài sản có tính thanh khoản cao của VNM là 8.996 tỷ đồng, trong đó 90% là tiền mặt và các khoản tiền gửi ngân hàng mang về cho doanh nghiệp khoảng 500 tỷ đồng doanh thu tài chính. Điều này được giải thích là do phần lớn các dự án lớn của VNM đã được thực hiện trong năm 2012-2014, các dự án phát triển nguồn nguyên liệu và nhà máy tại Campuchia đang được triển khai tuy nhiên với giá trị đầu tư (2015-2017) ước khoảng 4.500 tỷ đồng - không gây áp lực lên dòng tiền của VNM.

Chính sách hạn chế sử dụng vốn vay của VNM vẫn được duy trì, tuy nhiên được vận dụng tương đối linh hoạt để tận dụng được chênh lệch lãi suất tiền gửi VNĐ và các khoản vay USD của công ty. Điều này được phản ánh trong việc gia tăng nợ vạy ngắn hạn của VNM trong 9T.2015. Cụ thể, giá trị vay nợ ngắn hạn của công ty mẹ là 790 tỷ đồng – chủ yếu là các khoàn vay bằng USD (lãi suất 1,7%/năm) để thanh toán tiền nguyên vật liệu trong khi lượng tiền và tương đương tiền (bao gồm cả các khoản đầu tư ngắn hạn- chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn) là rất lớn (8.329 tỷ đồng) (lãi suất 6-7%/năm).

TRIỂN VỌNG 2016 CỦA CÔNG TY SỮA VINAMILK

Doanh thu: Trên cơ sở thận trọng, chúng tôi dự phóng doanh thu nội địa sẽ tăng trưởng 9,26% trong năm 2016, thấp hơn so với mức tăng trưởng 10,34% của năm 2015 do thị trường sữa tươi (mảng sản phẩm đóng góp chính vào doanh thu của VNM) đang bước vào giai đoạn bão hòa với tốc độ tăng trưởng chậm lại, ước đạt 8%/năm (Euromonitor).

Các mảng sản phẩm khác VNM đang có thị phần áp đảo hoặc cạnh tranh gay gắt với các hàng sữa khác, do đo chúng tôi cho rằng VNM sẽ khó có khả năng mở rộng thêm thị phần mà chỉ duy trì ở mức hiện tại, do đó tăng trưởng các mảng này chỉ tương đương với tăng trưởng nhu cầu thị trường. Cụ thể: Mảng sữa đặc: Đây là mảng sản phẩm đã bão hòa chủ yếu được cung cấp làm nguyên liệu cho các nhà máy bánh kẹo và cà phê, do đó tốc độ tăng trưởng dài hạn rất thấp, ước đạt 1%/năm (Euromonitor).  

  • Mảng sữa chua: Với sự khôi phục của nền kinh tế, mức sống cao hơn và nhận thức về sức khỏe được nâng lên, mảng sản phẩm này có mức tăng trưởng rất tốt trong năm 2014 đạt 17% và tiếp tục đà tăng trưởng này trong năm 2015 và 2016. Tốc độ tăng trưởng dài hạn được dự phóng ở mức 6%/năm (CAGR)
  • Mảng sữa nước: đang dần bước vào giai đoạn bão hòa, nhưng với cơ cấu dân số trẻ và mức thu nhập dần tăng lên, tăng trưởng dài hạn mảng sản phẩm này ước đạt 8% (Euromonitor)
  • Mảng sữa bột: Theo nghiên cứu của Nielsen, thị trường sữa bột ở 6 thành phố lớn đang có xu hướng bão hòa ghi nhận tốc độ tăng trưởng âm về sản lượng 6T.2015 là -11%(yoy). Trong khi đó, triển vọng của mảng sữa bột tại các thành phố nhỏ và nông thôn vẫn rất tích cực (với 70% dân số, 2 triệu trẻ em từ 0-6 tuổi) và người tiêu dùng tại đây đang có thu nhập ngày càng cải thiện, quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe của con cái. Năm 2015, Vinamilk tiếp tục tăng trưởng thị phần ở mảng sữa bột và theo VCBS thì động lực chủ yếu sẽ đến từ phân khúc khách hàng ở khu vực các thành phố nhỏ và nông thôn. Điều này là do (1)Sản phẩm sữa của VNM tập trung vào sữa bột trẻ em phân khúc thấp và trung cấp, giá chênh lệch lớn với các hãng sữa nước ngoài, và (2) Thời gian thâm nhập thị trường lâu dài.

    Theo đó, chúng tôi dự phóng doanh thu mảng sữa bột tiếp tục tăng trưởng tốt, ước đạt 20% yoy trong năm 2016.

  • Tỷ trọng doanh thu các mảng hoạt động được ước tính dựa trên cơ cấu doanh thu năm 2012 và tăng trưởng doanh thu các mảng trong năm 2013, 2014 ( Euromonitor)

Về thị trường nước ngoài, chúng tôi cho rằng doanh thu sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt, nhờ vào:

  • Vinamilk sẽ đưa vào vận hành nhà máy sản xuất sữa tươi và sữa chua tại Campuchia vào Q1.2016, tuy nhiên đây là thị trường mà Vinamilk đã thâm nhập khá lâu và việc xây dựng nhà máy là để đáp ứng nhu cầu tại chỗ thay vì xuất khẩu từ Việt Nam. Do đó mặc dù đánh giá cao tiềm tăng trưởng của thị trường Campuchia trong dài hạn, chúng tôi cho rằng doanh thu của thị trường này sẽ chỉ tăng trưởng nhẹ so với năm 2015.
  • Tiếp tục thâm nhập thị trường Myanmar
  • Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Iraq (chiếm trên 50% giá trị xuất khẩu) vẫn rất tiềm năng với dự báo tăng trưởng dài hạn ước khoảng 16% đến năm 2018.

Với việc phục hồi thị trường Iraq vốn có sức tăng trưởng tốt, đồng thời triển khai nhà máy tại Campuchia, xuất khẩu sang thị trường Myanmar và cơ sở tăng trưởng 28,5% (năm 2014) và 44% (ước năm 2015), chúng tôi thận trọng dự phóng doanh thu mảng xuất khẩu của VNM năm 2016 ước đạt 9.876 tỷ đồng (+20% yoy, chiếm 22%DTT)

Chi phí giá vốn:

Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, sản lượng sữa của Newzeland được dự báo sẽ sụt giảm trong năm 2015 do thời tiết khắc nghiệt và số lượng đàn bò giảm. Giá WMP có khả năng sẽ tăng giá nhẹ trong 6T.2016 do cân bằng cung cầu dần được thiết lập lại, trong khi đó giá SMP nhiều khả năng sẽ vẫn duy trì ở mức thấp trong năm 2016 mặc dù nguồn cung giảm.

Đánh giá khả năng tăng giá sữa WMP (nguyên liệu chính của VNM) công ty có khả năng sẽ chốt toàn bộ giá sữa năm 2016 vào cuối Q4.2015 hoặc đầu Q1.2016. Do đó tỷ suất lợi nhuận gộp của VNM sẽ được duy trì tương đương với năm 2015

Các chi phí khác: Qua trao đổi với DN, VNM dự kiến sẽ duy trì tỷ lệ chi phí bán hàng/doanh thu quanh mức 15% như hiện tại, do đó chúng tôi dự phóng tỷ lệ chi phí bán hàng/ doanh thu năm 2016 sẽ tương đương với năm 2015, ước khoảng 15,8%.

Cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn không có nhiều biến động do đo chi phí và doanh thu tài chính không có thay đổi đáng kể.

Chúng tôi dự phóng KQKD 2016 của VNM với 45.308 tỷ đồng doanh thu và 8.510 tỷ đồng LNST.

Cổ tức: Qua trao đổi với doanh nghiệp, nhiều khả năng trong năm 2016 VNM sẽ vẫn thực hiện chia cổ tức tiền mặt với tỷ lệ 50% LNST, tuy nhiên chưa có thông tin về việc phát hành cổ phiếu thưởng

TRIỂN VỌNG DÀI HẠN CỔ PHIẾU VNM

Gia nhập TPP

Theo lộ trình kết thúc đàm phán TPP các sản phẩm sữa từ Mỹ, Úc và Newzeland về Việt Nam sẽ có mức thuế giảm từ 7% năm 2015 xuống còn 0% năm 2018. Điều này sẽ tạo sức ép cạnh tranh lên các công ty sản xuất sữa nội địa như Vinamilk.

Mảng sữa nước và sữa chua: Nhờ rào cản về chi phí và thời gian bảo quản, sản phẩm sữa tươi thanh trùng và sữa chua (thời gian bảo quản 10-20 ngày) sẽ vẫn là thị trường của các nhà sản xuất nội địa. Đối thủ cạnh tranh chính của VNM sẽ vẫn là các công ty sản xuất sữa trong nước như TH True Milk, IDP, Nutifood, FCV... Để cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại (chủ yếu là sữa tười tiệt trùng và sữa nước hoàn nguyên do thời gian bảo quản khoảng 6 tháng) các doanh nghiệp trong nước sẽ tăng cường quảng cáo về chất lượng và giá trị dinh dưỡng của sản phẩm sữa tươi thanh trùng và sữa chua, đồng thời tăng cường đầu tư vùng nguyên liệu, nâng cao năng suất bò sữa.

Theo một số nguồn tin, tính Q3.2015, số lượng đàn bò của Vinamilk là 120.000 con, THtrue milk là

45.000 con, Nutifood (6.000 con), IDP (17.000 con), FCV (2.200 con). Vinamilk dẫn đầu về cả số lượng đàn bò và năng suất cho sữa do quy trình nuôi khép kín công nghệ cao, theo đó năng suất bò Mỹ là 28lít/ngày và bò Úc là 14-15 lít/ngày(Vinamilk nhập cả bò Mỹ, Úc và NewZeland, sản lượng của bò tại Mỹ là 35 lít/ngày, Úc và Newzeland là 14-15 lít/ngày) trong khi TH true milk và Nutifood, IDP và FCV chủ yếu là bò Úc và Newzeland (FVC và IDP kết hợp với các hộ nông dân do đó khó nâng năng suất sữa hơn). Với thương hiệu mạnh, mạng lưới phân phối rộng khắp, hoạt động hiệu quả, vị thế dẫn đầu thị phần và phát triển vùng nguyên liệu, VCBS cho rằng VNM sẽ tiếp tục tuy trì được thị phần trong mảng sữa nước và sữa chua trong dài hạn.

Mảng sữa bột: Áp lực cạnh tranh tăng lên từ các sản phẩm ngoại nhập trong khi tâm lý ưu tiên dùng hàng ngoại của người tiêu dùng vẫn phổ biến. Tuy nhiên, tiềm năng tăng trưởng của thị trường sữa bột ở Việt Nam còn rất lớn (CAGR dài hạn ước đạt 8%), phân khúc mà Vinamilk có thể hướng đến là phân khúc thấp và trung cấp , đối tượng là khách hàng ở thành phố nhỏ và nông thôn với việc đa dạng hóa các sản phẩm sữa cho nhiều lứa tuổi, mức giá cạnh tranh, thương hiệu được nhận diện rộng rãi, chúng tôi cho rằng công ty có khả năng mở rộng thị phần tại phân khúc khác khách hàng này, và có được tốc độ tăng trưởng doanh thu tương đương với tốc độ tăng trưởng của cầu.

Việc SCIC thoái vốn

Với 45,06% sở hữu tại Vinamilk, giá trị cổ phiếu thoái vốn tạm tính (theo giá thị trường ngày

19.11.2015) là 70.286 tỷ đồng. Do giá trị rất lớn của số cổ phiếu thoái nên SCIC nhiều khả năng sẽ tìm nhà đâu tư chiến lược để mua cổ phiếu vinamilk nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.

Phương án thoái vốn: Có thể có 2 phương pháp được lựa chọn là bán cả lô và bán lô lẻ (Chia thành 3 đơt, mỗi đợt không dưới 10%)- đây là đề nghị của VNM và cũng đã được ông Lại Văn Đạo (Tổng giám đốc SCIC) từng đề cập đến.

Nhà đầu tư: VNM là cổ phiếu rất được quan tâm bởi các nhà đầu tư nước ngoài trong đó bao gồm công ty nằm trong chuỗi giá trị ngành sữa (F&N)-đang nắm giữ tỷ lệ lớn nhất là 11,04% và các quỹ đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng người mua tiềm năng sẽ là công ty nằm trong chuỗi giá trị của ngành thực phẩm và đồ uống bởi:

  • Đây là một bước đi tắt để có được 50% thị phần sữa Việt Nam
  • Có kinh nghiệm và khả năng quản trị để điều hành tốt Vinamilk, đảm bảo giá trị của khoản đầu tư (thị trường sữa trong 3 năm tới sẽ đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn hơn, liệu các quỹ đầu tư có mạo hiểm nắm giữ tỷ lệ lớn cổ phiếu trong khi hạn chế khả năng quản trị DN, ban lãnh đạo nòng cốt của VNM đã đến tuổi về hưu)

Theo một số nguồn tin trên thị trường, một số nhà đầu tư nước ngoài đã đặt vấn đề với VNM bao gồm F&N và một công ty khác của Mỹ (Các hãng sữa của Mỹ đang hiện diện trên thị trường Việt Nam là Abbott - chiếm thị phần sữa bột ngoại lớn nhất, Enfa) Mặc dù F&N đã phủ nhận tin đồn chào mua lại số cổ phần của SCIC với giá 4 tỷ USD, chúng tôi cho rằng đây vẫn là một đối tượng hết sức tiềm năng do

  • F&N đang sở hữu 11,04% cổ phần của VNM, nếu mua thêm 45,05% cổ phần của SCIC F&N sẽ có được tỷ lệ cổ phần chi phối;
  • F&N có công ty mẹ là Thaibev với tiềm lực tài chính mạnh hoàn toàn đủ khả năng mua lại số cổ phần của SCIC

F&N nằm trong chuỗi giá trị của ngành food & beverage nên khả năng thâu tóm một doanh nghiệp theo ngành ngang để mở rộng thị phần là tương đối hấp dẫn, đặc biệt khi thị trường sữa Việt Nam vẫn được đánh giá sẽ có tốc độ tăng trưởng tốt trong dài hạn.

 

Rate this post